Phương pháp trị ung thư gan bằng sóng cao tần

Cơ cở khoa học

Trị ung thư gan bằng sóng cao tần - Ảnh 1
Có nhiều loại kim RFA, kim chùm là một trong những loại kim thường dùng


Đốt sóng cao tần RFA (radio-frequency ablation) là phương pháp nhu mô bằng nhiệt của dao động với tần số 200-1200 kHz. Người ta đặt một ở trung tâm khối u và duy trì nhiệt độ phá hủy từ 60 -100°C. từ máy được truyền vào khối u qua một điện cực dạng kim (needle electrode), dòng sóng radio được truyền vào . Nhiệt do ma sát làm khô mô xung quanh dẫn đến làm mất nước trong tế bào và hoại tử đông khối u.

Minh họa hoạt động sinh nhiệt của kim đốt trong khối u
Minh họa hoạt động sinh nhiệt của kim đốt trong khối u


Phương pháp có chỉ định tốt với các khối u nhỏ hơn 3cm. Với các khối u lớn hơn, phải dùng hai kim một điện cực hoặc kim có chùm 3 điện cực. Kết quả theo nhiều tác giả rất khả quan, tuy nhiên phải theo dõi và làm nhiều lần. Hiện nay có xu hướng kết hợp với nút hoá chất động mạch .

Hiệu quả và lợi ích

Tùy thuộc vào của khối u, RFA có thể được thực hiện 1 hay nhiều lần với mục đích hủy toàn bộ khối u. Thông thường, dưới 3 cm đòi hỏi 1 hoặc 2 lần , những tổn thương trên 4 cm có thể cần đến 5 hoặc 6 lần để có được ranh giới an toàn của việc (cách bờ khối u ≥1 cm). Việc quyết định điều trị lại cho bệnh nhân khi có bằng chứng còn sót mô trên hình ảnh chụp cắt lớp điện toán sau 1 tháng. Trong gan nguyên phát, khi kích thước u nhỏ (<3,5 cm), tỉ lệ sống trung bình sau 1, 3, và 5 năm điều trị RFA tương ứng là 94%, 68%, và 40%. Theo các báo cáo trên thế giới, thủ thuật này rất ít khi gây biến chứng nặng, tỉ lệ biến chứng nhẹ khoảng 2-3%.

Khối HCC trước RFA trên CTscanner
Khối HCC trước RFA trên CTscanner

Sau RFA 1.5 giờ, khối u hoại tử

Quy trình thực hiện

Sau khi đã có chẩn đoán xác định là ung thư gan nguyên phát hoặc từ vị trí khác di căn đến, thực hiện các xét nghiệm như một trường hợp chuẩn bị phẫu thuật thông thường, bác sĩ phẫu thuật sẽ đánh giá tình trạng bệnh để xét chỉ định và đưa ra kế hoạch điều trị. Thủ thuật thường được thực hiện trong phòng hình ảnh can thiệp (interventional room) hoặc tại phòng mổ (RFA qua da dưới hướng dẫn của siêu âm, qua nội soi ổ bụng hoặc mổ hở). Thủ thuật được thực hiện qua da, qua nội soi ổ bụng hoặc ngay trong lúc mổ bụng. RFA qua da với an thần nhẹ và gây tê tại chỗ, sau khi rạch một vết nhỏ trên da, kim điện cực được đưa vào vị trí u đã xác định trước dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc chụp điện toán cắt lớp (CT-scan), khi vị trí kim đã chắc chắn (đầu kim đâm xuyên vào khối u khoảng 10 mm), thì kích hoạt máy để sinh nhiệt, thời gian hoạt động của máy khoảng 6 phút. Thời gian thực hiện thủ thuật trung bình cho 1 đợt điều trị kéo dài từ 20 đến 30 phút. Sau thủ thuật bệnh nhân được nằm theo dõi tại phòng hồi sức hoặc hậu phẫu khoảng 6 giờ, dùng thuốc giảm đau, kháng sinh dự phòng và bệnh nhân có thể xuất viện ngay trong ngày.

Đưa điện cực RFA vào khối u gan dưới hướng dẫn siêu âm Đưa điện cực RFA vào khối u gan dưới hướng dẫn CTscanner
Đưa điện cực RFA vào khối u gan dưới hướng dẫn siêu âm Đưa điện cực RFA vào khối u gan dưới hướng dẫn CTscanner

Chỉ định

- RFA là một phương pháp điều trị u gan đang được nghiên cứu, và đến nay vẫn chưa có chỉ định rõ ràng. RFA vẫn bị giới hạn ở những bệnh nhân quá chỉ định cắt gan.

- Có ≤4 tổn thương nhỏ (<5 cm) của ung thư gan nguyên phát hoặc u di căn từ ung thư đại trực tràng mà không còn chỉ định phẫu thuật cắt gan.

Nghiên cứu 10 năm về RFA đăng trên tạp chí Am J Gastroenterol tiến hành với 2.982 lượt RFA trên 1.170 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, với thời gian theo dõi trung bình 38.2 tháng thấy:
– Tỷ lệ sống sau 5 và 10 năm là 60,2% và 27,3%; Tỷ lệ tiến triển tại khối u đã RFA sau 5 và 10 năm là 3,2% và 3,2%.
– Tỷ lệ tái phát xa (ngoài vị trí khối u đã RFA) sau 5 và 10 năm là 74,8% và 80,8%.

Chống chỉ định

- Bệnh ngoài da vùng thực hiện thủ thuật
– Có bệnh ác tính khác đang tiến triển
– Xơ gan hoặc suy gan nặng
– Tăng áp lực tĩnh mạch cửa hoặc huyết khối tĩnh mạch cửa
– Rối loạn tâm thần
– Dưới 18 tuổi
– Đang mang thai
– Bệnh phổi nặng
– Nhiễm trùng nặng
– Rối loạn đông máu kháng trị
– Tổn thương lớn (>5 cm) (tương đối)
– Nhiều tổn thương (>4 tổn thương) (tương đối)
– U nằm cạnh mạch máu lớn, màng ngoài tim, cơ hoành, hoặc tạng khác (tương đối)

Theo Ths. Bs. Ngô Lê Lâm
Khoa Chẩn đoán Hình ảnh – BV Bạch Mai

Cùng Danh Mục :

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>